Ký sự: Tết ấm áp – Tết yêu thương

Chúc Nguyễn 27/01/2015 Comments Off

Những đỉnh núi mờ sương, những ngôi nhà chênh vênh với cột khói lam chiều, những vòng xòe nhôn nhịp trong âm hưởng mùa xuân hay cành đào hé nở giữa núi rừng đại ngàn… Đó là tất cả những gì đọng lại trong trí mường tượng của tôi về vùng cao, nhưng chuyến đi tới bản Phia Cò 2, xã Nam Cao, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã làm cho tôi thay đổi toàn bộ suy nghĩ đơn giản ấy.

Chọn một nơi để đến – Phia Cò 2, xã Nam Cao, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng

Trong tháng cuối năm 2014 này, tôi được giao một đề tài Tết về cuộc sống của những con người vùng cao cùng với một chút quà gửi tới họ. Tôi băn khoăn trước việc lựa chọn một địa điểm để tới, vì những địa điểm gần, những cung đường dễ đi lại có phải nơi tận cùng của sự khó khăn vất vả trong cuộc sống người vùng cao mà tôi muốn thực hiện?

Tre em ngheo_phongsu copy

Tôi đem băn khoăn này tâm sự với một “ông anh“ chuyên làm báo ảnh vùng cao. Sau khi nghe tôi tâm sự, ông anh có gửi cho tôi vài tấm hình về nơi anh vừa đến làm từ thiện. Cảm xúc đầu tiên của tôi khi xem những tấm hình đó là một sự thiếu hụt và có vẻ như mông muội của cuộc sống, con người nơi Phia Cò 2. Anh cho tôi xin địa chỉ liên hệ của một cô giáo đã từ bỏ cuộc sống ồn ã để đến với bản làng xa xôi gieo chữ. Nghe được tin này, tôi ồ lên sung sướng, vậy là đã có cách triển khai đề tài, mượn lời của một cô giáo kể câu chuyện vùng cao – tôi nghĩ bụng như vậy.

Nhiều ngày sau, tối nào tôi cũng gọi điện làm quen, nói chuyện cho bớt cảm giác “người lạ” giữa tôi và cô giáo Trương Thị Nga. Cô giáo Nga năm nay 29 tuổi và đã tham gia giảng dạy ở vùng miền núi này được 5 năm. Gọi điện thoại cho cô là cả một sự khó khăn, bởi sóng yếu, cuộc gọi bị gián đoạn liên tục. Muốn nói chuyện với nhau có khi bấm đi bấm lại chục cuộc. Cô Nga kể là ở đây phải đi dò sóng vất vả, vì địa hình hiểm trở, sóng điện thoại không phủ tới được, cô phải đi loanh quanh để bắt được một cột sóng mà gọi cho tôi. Vùng cao trong trí tưởng tượng của tôi bắt đầu chân thực hơn.

Trong những cuộc gọi điện thoại ngỏ ý sẽ lên làm một chương trình vì Tết đang đến rất gần rồi, cô Nga nói với tôi điều này làm tôi trăn trở suốt “các em lên đây làm chương trình, làm từ thiện thì chị có gợi ý là các em mua đồ mà các cháu nhỏ ở đây còn quá thiếu thốn, các em ở đây chưa được ăn kẹo bánh bao giờ đâu em ạ! Có lần chị mua 1 gói kẹo các cháu tranh nhau ăn tội quá. Đừng tặng tiền, tiền ở đây cũng chẳng làm được gì nhiều đâu. Em xem ai có quần áo cũ mà còn tốt, em gom lại cho chị xin, dân trên bản thiếu cái mặc mà trời lạnh lắm em ạ”.

Tôi nghĩ về cuộc sống nơi thành thị của mình, ai dường như cũng đi làm vì một mục tiêu chung “kiếm tiền” để có thể trang trải cho cuộc sống vốn đắt đỏ, để thỏa mãn các nhu cầu hay thị hiếu, thì ở nơi như Phia Cò 2, họ còn chẳng có nổi những nhu cầu tối thiếu của cuộc sống.

IMG_5377

Và thế là tôi quyết định chọn Phia Cò 2, Cao Bằng làm địa điểm sẽ đến.

Cung đường đi hiểm trở

Gọi là đoàn đi, nhưng chúng tôi chỉ gồm 3 thành viên: tôi – biên tập chương trình, một anh quay phim và một bác lái xe. Trước đó, tôi có bàn qua với anh quay phim về ý tưởng tổ chức chương trình quay này của mình, trên xe chúng tôi nói chuyện rôm rả về những kỉ niệm trong lần đi quay trước về vùng cao. Bác tài cũng lâu lắm mới đi xa như vậy và lại cũng không thông thuộc đường đi nên cứ một đoạn chúng tôi lại phải nhờ đến smart phone để định vị rằng mình đang đi đúng cung đường.

Suốt trên dọc đường đi, cô Nga gọi điện cho tôi rất nhiều và tỏ ra sốt ruột, tôi có đùa là “chúng em sắp lên “củ hành” chị đây”, cô Nga vui vẻ bảo “neo người quá, heo hút quá, chị chỉ mong có người đến và ở thật lâu với chị, muốn hành chị bao lâu cũng được” – câu nói đùa này mãi về sau đặt chân đến Phia Cò tôi mới thấm thía.

Xe bon bon trên chặng hành trình đã định trước, đi qua mấy cung đường vòng vèo càng lên cao, trời càng rét, cửa kính ô tô cứ mờ đục đi, anh em chúng tôi cũng bắt đầu thấy oải mỗi lần đi vào khúc cua gấp tay áo hay đoạn đổ đèo mà nhìn đến “lạnh” hết cả gáy – một bên là vực thẳm hun hút, một bên là vách núi, con đường hẹp, hai xe tránh nhau còn khó. Dù đã buồn ngủ díp mắt, nhưng tôi vẫn cố nhấn nút nhạc to lên một chút để giữ sự tỉnh táo còn nói chuyện cho bác tài đỡ buồn và đỡ căng thẳng khi lái qua đoạn đường nguy hiểm như thế này. Cũng có những khi thời tiết đỡ đỏng đảnh hơn, cho tôi ít nắng nhạt của mùa đông lạnh và kịp nhìn thấy vẻ đẹp của vùng rừng hoang sương muối.

Cảnh ở cung đường lên huyện Bảo Lâm đẹp thật! Cả núi rừng tĩnh lặng, bên dưới là thung lũng với những con đường mòn len lỏi, lác đác vài ngôi nhà mái lá trong làn khói chiều. Cảm giác lúc đó của tôi như tĩnh lặng, như lạc vào một thế giới khác của những trong trẻo lạ thường.

Xe chạy một mạch từ cung đường đèo đến trung tâm huyện Bảo Lâm thì cũng là lúc trời nhá nhem tối. Chị Loan có gọi cho tôi bảo các em nghỉ lại ở huyện Bảo Lâm, sáng mai vào bản sớm, vì đi đường rừng ban đêm nguy hiểm lắm, bọn chị dân bản địa ở đây còn không dám leo núi đêm. Đường từ bản Phia Cò 2 leo núi mất khoảng 2 tiếng nữa mới vào đến nơi.

Bác tài đã mệt mà trời tối đen như mực, đường vào bản chắc là còn  xa nữa nên chúng tôi quyết định nghỉ lại ở huyện Bảo Lâm chờ đến sáng sớm mai mới vào. Trung tâm huyện Bảo Lâm khá sầm uất với hai dãy phố san sát điện đèn buôn bán, xe trọng tải lớn khai thác khoáng sản thường xuyên đi qua đây nên ở Bảo Lâm đi tìm một hàng ăn bình dân không phải điều khó.

Đêm hôm đó chắc vì lâu rồi mới đi xa đến vậy lai phải tập trung lái xe suốt chặng đường hàng nghìn km, bác tài đi ngủ rất sớm. Tôi còn nói chuyện điện thoại đến gần 1 giờ đồng hồ với chị Nga. Đường vào bản Phia Cò còn khoảng 40 km nữa thôi mà tôi háo hức, còn chị sốt ruột. Chị bảo là cứ hi vọng bọn em đi sớm hơn vào đây ngủ đêm nay với chị rồi, hôm nay chị nóng lòng quá, đơi bọn em cả ngày cơm cũng chẳng thiết ăn. Tôi buồn cười trước sự nhiệt thành của chị, có lẽ đó là một phần bản tính hiếu khách, quý người của những người dân tộc hồn hậu ở đây chăng?

Sáng hôm sau 4h đoàn tiếp tục cung đường cuối cùng để cán đích xã Nam Cao, huyện Bảo Lâm.  Trời tối mù mịt, đường vào còn đoạn ngắn nữa thôi mà tuyệt nhiên không có biển chỉ dẫn nào, trời tối đen dân bản đều chưa dậy, lạnh, đói và cả sợ hãi nữa tự nhiên làm tôi có chút e ngại. Chúng tôi vừa đi vừa dò dẫm đường, đường chỉ hẹp vừa khít ô tô đi, tôi phải gọi điện thoại cho chị Nga liên tục để xin sự hướng dẫn, điện thoại ở đây tậm tịt, sóng lúc có lúc không nên dù xuất phát từ rất sớm thì cũng mất đến 3 tiếng đồng hồ cho 40km đường núi mới vào đến nơi.

Xe đi đường gập ghềnh, băng qua 2 con suối. Bác tài nói nửa đùa nửa thật về chuyện lên đây chắc ở luôn lại bản chứ cứ nghĩ chặng đường ra bác ngán quá, ê hết tay vì bẻ lái.

Tết ấm áp – tết yêu thương

7h sáng có mặt ở xã Nam Cao, trong giá lạnh và tờ mờ sương, cô giáo Nga đã đợi chúng tôi hơn hai giờ đồng hồ ở đây. Đây cũng là lần đầu tiên tôi và cô Nga gặp nhau trực diện. Chị Nga khác nhiều so với hình dung của tôi, chị gầy, cao, dáng đi nhẹ nhàng, đôi mắt hơi đượm buồn, nhưng giọng nói lại sang sảng của người miền núi. Đi cùng chị từ bản ra đón có một thầy giáo trẻ sinh năm 91 cũng mới nhận công tác lên Phia Cò và hai người dân bản địa

Nhìn chị Nga chỉ lên ngọn núi xa tít tắp và nói đó là nơi chúng ta sẽ đến vì Phia Cò 2 nằm ở đó, tôi đã hơi chột dạ. Dậy từ 4h sáng, đi một mạch đường núi gập ghềnh vào đây, chưa ăn gì lót dạ mà bảo leo qua ngọn núi đó thấy “thở ra đằng tai” rồi.

Chúng tôi mang ít quà lên cho các em vùng cao, đang uể oải xách mấy túi đồ thì chị Nga và mấy anh người bản địa đã đỡ lấy và nói: bọn em lên đây là quý rồi, đi đường núi không quen mệt lắm, ở đây bọn anh đi thường xuyên thông thổ hơn và có xe để thồ lên những đoạn dốc ngược cơ.

Bốn, năm thùng đồ được buộc vào xe và thồ lên con đường đến với Phia Cò 2. Có đi mới biết xa, có đến mới thấy được sự gian truân, bao nhiêu điều  thơ mộng trong trí tưởng tượng của tôi bỗng tan biến sạch sẽ. Đường lên qua hàng chục đoạn dốc ngược đến chùn cả chân, lúc này mới thấm thía cái mệt, cái đói, lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ đến nếu được ăn bát cơm nóng với muối canh chắc cũng ngon lắm rồi.

Dọc đường lên đây, thi thoảng gặp mấy em học sinh dân bản đứa lớn địu đứa nhỏ trên vai, trời rét thấu xương, tôi mặc áo đơn áo kép, trùm kín tai lại vẫn không chịu được lạnh thế mà mấy đứa nhỏ đây đứa nào đi chân đất, mỏng manh đúng 1,2 tấm áo. Tôi đứng lại hỏi chuyện các em nhưng chỉ thấy chúng tròn xoe mắt nhìn tôi, thấy vậy, chị Nga giải thích: lũ trẻ ở đây là người H’mong chúng chưa được học tiếng Kinh và cũng nhát người lắm. Không hiểu sao, cứ thấy trẻ miền núi là tôi mê, tôi thích nhất là ánh mắt trong veo, ngơ ngác hồn nhiên của chúng.

Đi được ½ con núi, tôi và anh quay phim thi nhau nghỉ, vì chúng tôi mệt quá, đường khó đi, dốc cao đầu gối như muốn rời ra, cái đói cái lạnh và sự hiểm trở núi đồi chuẩn bị đánh gục hai thanh niên thành phố như chúng tôi đến nơi rồi… vậy mà cô Nga vừa đi vừa nói chuyện, thi thoảng hát cho nghe mấy khúc hát nghe rất nhộn tai.

Tôi hoa mắt, đầu gối như rời ra đến nơi rồi cũng là khi bản Phia Cò hiện lên sau núi đồi. Ở đây nhìn thấy mỗi nóc nhà nhưng để đến tận nơi thì mất mấy giờ đồng hồ đi bộ. Cô Nga cho biết ở Phia Cò 90% dân tộc Mông, 100% người dân ở đây không biết đọc, biết viết, nói được tiếng Kinh cũng là điều hiếm hoi rồi.

Đặt chân đến Phia Cò 2, bọn trẻ con ở đây đang giờ học buổi sáng, nhìn cảnh lớp học tôi không khỏi ngạc nhiên: đây mà được gọi là 1 phân trường ư? 4 chiếc nhà lợp bằng gỗ dựng giữa rừng, mấy mảnh bạt che tạm trước gió, lũ trẻ con đang ê a đánh vần, mặt tái đi vì lạnh, vì rét. Lần đầu tiên tôi thấy lòng mình lại trùng buồn đến như vậy trước những đứa trẻ con xa lạ. Chị Nga bảo, bây giờ đỡ hơn ngày lần đầu chị lên nhận công tác nhiều, lớp học ngày chị lên là một cái lán xiêu vẹo, cả lớp có 3 bộ bàn ghế được đẽo bằng gỗ rừng thừa, ghế là mấy mẩu gạch đá kê lên.

IMG_5361

Phân trường Phia Cò 2, xã Nam Cao, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng

Buổi trưa tôi đi lòng vòng quanh khu trường một đoạn thì thấy một khu để đồ ăn, tò mò quá, tôi mới hỏi một cô giáo mầm non ở đây thì được cô cho biết. Lũ trẻ đi học là cả sự cố gắng vì chúng phải đi cả ngày đường núi để đến với phân trường học con chữ nên buổi trưa chúng thường mang cơm đi để tiện ở lại học buổi chiều. Tôi có nói với cô giáo các em ăn cơm như thế nào? Cô giáo mầm non bảo chị vào đây xem chúng mang gì đi học? Tôi mở mấy cặp lồng cơm và im lặng hồi lâu. Gần chục chiếc cặp lồng cơm không cặp lồng nào có chút màu sắc gì trừ màu trắng của cơm và muối. Tôi được cô tâm sự: nghèo lắm chị ạ, đói vô cùng, các cháu làm gì có gì ăn, cơm còn là sang đấy chứ có cháu chỉ có chút mèm mém (một loại ngô giã nhỏ, đồ lên ăn thay cơm của đồng bào dân tộc người Mông) thôi, cháu nào sang nhất chỉ có canh cải với nước trắng và muối. Tôi hỏi đi hỏi lại rằng “chúng không có thịt” hả chị? Như này thì sống sao nổi. Chị cười bảo: hoàn nào thì cảnh ấy, không có thịt đâu em ạ, các em chỉ được ăn thịt khi tết thôi, mấy miếng là nhiều đấy.

Giữa trưa, cái đói bắt đầu hoành hành hai anh em thành phố như tôi và anh quay phim. Cô Nga cùng các thầy cô ở đây dẫn tôi lên nhà tạm dành cho thầy cô. Một dãy nhà 3 chiếc úp lưng vào nhau. Gọi là nhà cho sang chứ như cái lán tạm, ở bên trong là sàn đất, mỗi phòng có 1 chiếc giường, và một bàn để giáo án, góc phòng là bếp củi để nấu ăn luôn.

Chắc lâu lắm mới có đoàn truyền hình lên nên cô Nga đi bắt gà để đãi chúng tôi, tôi nói là thôi có gì ăn nấy, các chị ăn như nào chúng em ăn được như vậy. Các thầy cô giáo trêu là nếu thế chỉ có cơm và canh cải thôi, các cán bộ phóng viên có vác được máy quay không?

Mà đúng như thế thật, cuộc sống các thầy cô giáo ở đây cũng chẳng khá hơn lũ học trò nghèo đói là mấy. Các thầy cô tự tăng gia được mảnh vườn nhỏ trồng toàn rau cải. Ở đây chỉ có cải và cải, các loại rau khác  cũng chẳng sống được giữa giá lạnh này. Chắc để chuẩn bị cho anh em tôi thầy cô đã phải đi mua gạo ở ngoài bản (đi chợ ở bản Phia Cò này cũng là cả hành trình, vượt qua mấy ngọn núi đi chợ  phiên mấy ngày mới mua được đồ cần). Bữa trưa cơm và rau cải hôm đó có lẽ là bữa cơm ngon nhất mà tôi được ăn.

Trọn một ngày sau chúng tôi lang thang đến các nhà trong bản để quay chương trình. Cái nghèo đói đeo đẳng con người nơi đây. Gia đình nào cũng nghèo, cũng đông con, đứa nhỏ này chưa lớn, đứa kia đã chuẩn bị ra đời, cứ thế cuộc sống của họ dường như quẩn quanh với thửa ruộng bậc thang, với nương ngô và thiếu thốn.

IMG_5370

Dù chuẩn bị kĩ nhưng cũng không lường trước sự thiếu hụt đến mức này của dân bản Phia Cò 2. Quay đến ngày thứ 2 thì hết sạch pin dành cho máy quay dự phòng, điện ở đây không đủ để sạc được pin, điện lưới còn chưa vào đến bản làng xa xôi này. Cô Nga bảo cách đây khoảng 4 giờ đi bộ và 2 quả núi có một nhà trưởng bản có điện đấy, để cô nhờ dân bản đi hộ. Cực chẳng đã, công việc chưa hoàn thành, điều kiện không cho phép nên chúng tôi phải nhờ một cậu học trò của cô Nga cầm pin máy quay với lời dặn dò rất kĩ để đi sạc còn có cái mà tiếp tục quay, tiếp tục làm việc

Đêm hôm đó ngủ ở Phia Cò 2, tôi mới thấm hết cái lạnh ở đây. Lạnh cắt da cắt thịt thấm vào từng giác quan. Tôi gọi những người giáo viên ở đây là những người “chiến sĩ” – không là chiến sĩ sao được khi các thầy cô còn rất trẻ này đã rời bỏ cuộc sống đầy đủ, ồn ào ngoài kia để đến với Phia Cò 2, để bám bản, bám dân.

Ăn bữa cơm rau xong chúng tôi và các thầy cô giáo ở đây ngồi quay quần bên bếp lửa nói chuyện. Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh công việc thầy cô, cuộc sống ở đây. Câu chuyện tôi nhớ nhất là những ngày các thầy cô giáo đến từng nhà vận động học sinh đi học, vì ở đây, sự học vẫn là cái gì đó xa lạ với họ, học để làm gì khi cái nghèo còn đeo đuổi, miếng ăn còn chưa đủ… Mỗi ngày đi vận động chỉ được khoảng 2 gia đình, vì nhà ở đây cách nhau mấy tiếng đồng hồ băng rừng vượt núi, họ lại không rành tiếng Kinh nên càng khó khăn hơn cho các thầy cô… Câu chuyện bên bếp lửa hồng cứ xôm dần lên… Anh em tôi lâu lắm mới cảm nhận được tình người đầm ấm đến thế…. Lại nhắc lại câu chuyện lúc chiều khi tặng chút bánh kẹo cho các em, cháu nào cũng giữ như một báu vật quý hiếm, đứa nào cầm phần đứa đó, cất vào manh áo mỏng, lâu lâu mới bỏ ra ăn một chút như dè xẻn, như tiếc của… Mấy chiếc kẹo với chúng là cả một điều kì diệu. Nghĩ tới chặng đường tạm biệt thầy cô, tạm biệt những đứa trẻ ở đây lại thấy lưu luyến

IMG_5365

Hôm sau chúng tôi thu xếp đồ từ sớm, cũng là khi thầy cô phải xuống núi đi họp chuyên môn nên đưa chúng tôi về và đi họp luôn. Dân bản ra tiễn chúng tôi trong cái ôm siết chặt, trong cái nắm tay nồng ấm, dù không biết uổng rượu nhưng trước tấm lòng của họ, tôi cố uống một chén để trân trọng tình người nơi đây. Chặng đường về có vẻ đỡ mệt hơn vì chúng tôi cũng quen hơn, vì sáng đã được lót dạ tạm gói mì tôm nên có năng lượng hơn chăng?

Gần hết chân núi, tôi bỗng thấy mắt cô Nga ướt, chắc cô buồn vì dù sao mấy ngày chúng tôi lên, các thầy cô có thêm người vào ra nói chuyện. Giữa heo hắt của bản xa xôi ấy, được nói tiếng Kinh được kể câu chuyện về chính họ có lẽ là điều gì đó hiếm hoi.

Xe ô tô và bác tài đợi sẵn chúng tôi, lịch trình quay về Hà Nội đã được định sẵn, chia tay Phia Cò 2, chia tay cô giáo Nga cùng các thầy cô nơi đây, cả đoàn ai cũng bịn rịn, trao đổi số điện thoại, ghi vội mấy dòng trong mặt cuối trang giáo án, chúng tôi hi vọng sẽ trở lại nơi đây trong một ngày không xa

Về đến Hà Nội, mở máy tính lên, viết dòng đầu tiên “hôm nay lên Phia Cò 2…”.

Kids & Family TV

Comments

comments

Comments are closed.